Khi phương Tây suy tàn thì phương Đông nổi lên. Quyền lực thực sự dường như đang dịch chuyển về phía phương Đông và đặc biệt là về phía Trung Quốc. Một câu hỏi rất quan trọng mà chúng ta cần tự hỏi khi nhìn vào sự thay đổi này là phương Tây đã nắm quyền được bao lâu. Phải chăng chỉ trong 200 năm qua, Pax Britannica và Pax Americana mới thống trị thế giới? Hay ngược lại, phải chăng trong 5 thế kỷ vừa qua, khi tiến bộ khoa học và mở rộng toàn cầu rõ ràng là do phương Tây dẫn đầu? Đây là một cuộc tranh luận thích đáng vì nó có thể cho thấy liệu sự thống trị của phương Tây chỉ là một dấu ngoặc đơn ngắn gọn và hời hợt trong lịch sử nhân loại hay ngược lại, là một đặc điểm rộng lớn và cố thủ hơn.
Hai trăm hay 500 năm?
Nhà ngoại giao và học giả Singapore Kishore Mahbubani và nhà sử học người Scotland Niall Ferguson ở hai phía đối lập nhau trong cuộc tranh luận này. Mahbubani khẳng định sự kiểm soát đó đã có từ những năm 1800. Trong nó từ“kiểu thống trị thế giới đáng kinh ngạc mà Mỹ và phương Tây đã đạt được trong hơn 200 năm qua là một khoảnh khắc cực kỳ giả tạo trong lịch sử.”
Trong khi đó Ferguson lập luận rằng nó bắt đầu vào những năm 1500. Ông khẳng định rằng “chúng ta đang trải qua sự kết thúc của 500 năm thống trị của phương Tây… khi phần lớn nhân loại ít nhiều phụ thuộc vào nền văn minh nảy sinh ở Tây Âu sau thời kỳ Phục hưng và Cải cách.”
Khi Trung Quốc cai trị
Tuy nhiên, không ai nghi ngờ rằng cho đến thế kỷ 15, quyền bá chủ thế giới vẫn thuộc về Trung Quốc. Hai dấu ấn xảy ra vào đầu những năm 1400, khi Hoàng đế Vĩnh Lạc – người cai trị vĩ đại nhất của nhà Minh – đã lên ngôi, là bằng chứng. Đặc điểm đầu tiên là việc Hoàng đế ủy thác một bản tóm tắt kiến thức Trung Quốc với hơn 11.000 tập, bộ bách khoa toàn thư lớn nhất mà nhân loại biết đến cho đến khi xuất hiện. Wikipedia. Đây là thời điểm mà phương Tây chưa phát minh ra nghề in ấn, khi kiến thức về thời cổ đại gần như đã biến mất, và khi những gì còn sót lại được sao chép bằng tay lên giấy da trong các tu viện Thiên chúa giáo một cách vất vả.
Đặc điểm thứ hai là Hoàng đế Vĩnh Lạc đã hỗ trợ hạm đội khổng lồ và sáu chuyến hải hành hoành tráng đến Đông Nam Á, Ấn Độ, Vịnh Ba Tư và Đông Phi mà đô đốc Trung Quốc đảm nhận. Zheng He được thực hiện từ năm 1405 đến năm 1424. Hạm đội bao gồm 317 tàu, trong đó có hơn 60 chiếc dài hơn 400 feet và rộng 160 feet. Cao vài tầng, những con tàu lớn này có chín cột buồm và 12 cánh buồm. Phải đến Thế chiến thứ nhất, một đội quân khác có quy mô như vậy mới được tập hợp. Khoảng 28.000 người đã tham gia lần đầu tiên vận chuyểntrong đó, ngoài các thủy thủ và binh lính, còn có các học giả và nhà thiên văn học. Thật là một sự khác biệt nổi bật so với ba đoàn lữ hành nhỏ bé, dưới sự chỉ đạo của nhà thám hiểm người Ý. Christopher Columbusđã mạo hiểm tiến vào Đại Tây Dương rộng lớn hơn vào cuối thế kỷ đó.
Hơn nữa, vào thời điểm này, Trung Quốc đã phát minh ra giấy, in ấn, thuốc súng, la bàn từ tính, sản xuất sắt tiên tiến và kỹ thuật thủy lực phức tạp. Quả thực, trong các lĩnh vực kỹ thuật, hóa học, luyện kim, y học, toán học và hàng hải, người Trung Quốc được hưởng lợi từ bí quyết khoa học và công nghệ to lớn. tính ưu việt trên phần còn lại của thế giới. Trên hết, phần lớn thương mại toàn cầu hiện nay đều đi qua thị trường Trung Quốc. Con đường tơ lụa.
Thành tựu của châu Âu
Vì vậy, trước năm 1500, Châu Âu rõ ràng là ngoại vi. Câu hỏi đặt ra là liệu sau ngày này, phương Tây có dẫn đầu như Ferguson lập luận hay ngược lại, liệu Trung Quốc có duy trì vị trí dẫn đầu cho đến đầu những năm 1800 như Mahbubani đã làm không? Câu trả lời là không rõ ràng, vì bằng chứng đi theo cả hai hướng.
Bắt đầu từ thế kỷ 16, Châu Âu đã thiết lập mạng lưới hàng hải toàn cầu, các đế quốc ở nước ngoài và sự hiện diện quân sự thường trực trên khắp thế giới. Trong khi đó, nhờ có nhà thiên văn học người Ba Lan Nicholas Copernicusnhà toán học người Ý Galilê Galilênhà thiên văn học người Đức Johannes KeplerTriết gia và nhà toán học người Đức Gottfried LeibnizNhà vật lý và toán học người Anh Isaac Newtonvà nhà thiên văn học và nhà toán học người Anh Edmond HaileyChâu Âu đã mở ra một cuộc cách mạng khoa học chưa từng có ở nơi khác.
Tuy nhiên, có hai lập luận có thể được đưa ra có lợi cho Trung Quốc về vấn đề này. Đầu tiên, như hạm đội và các chuyến đi của Đô đốc Zheng đã chứng minh, Trung Quốc có thể dẫn đầu trong mạng lưới hàng hải toàn cầu hoặc các đế quốc ở nước ngoài nếu muốn. Tuy nhiên, điều này đi ngược lại tâm lý của người Trung Quốc. Phiên bản phổ quát của Trung Quốc luôn là một phiên bản ngăn chặn. Quả thực, tự coi mình là Vương quốc Trung tâm – một nơi trung gian giữa bầu trời và các lãnh thổ man rợ trên Trái đất – Trung Quốc là một quốc gia hướng nội. Như Mahbubani giải thích: “Tâm trí của người Trung Quốc luôn tập trung vào sự phát triển của nền văn minh Trung Quốc, chứ không phải sự phát triển của nền văn minh thế giới. » Về vấn đề này, kinh nghiệm của Zheng trong thời kỳ Yongle là một ngoại lệ.
Thứ hai, cuộc cách mạng khoa học châu Âu mang ơn Trung Quốc rất nhiều, nước đã đặt nền móng cho nó. Khẳng định này được đưa ra bởi một số tác giả, bao gồm chủ yếu John M. Hobson. Theo ông, sự phát triển của Trung Quốc và phương Đông về nhiều công nghệ đã trở thành điều kiện tiên quyết cần thiết cho những thành tựu tiếp theo của châu Âu.
sức mạnh kinh tế của Trung Quốc
Nhưng bất kể Trung Quốc có thể làm gì nhưng lại không quan tâm làm, hay nước này đóng góp hiệu quả thế nào cho cuộc cách mạng khoa học châu Âu, thực tế là từ năm 1600 đến đầu những năm 1800, Trung Quốc chiếm khoảng 1/4 đến 1/3 GDP toàn cầu. Thậm chí vào năm 1820, Trung Quốc đại diện cho 30% của GDP toàn cầu. Như nhà kinh tế học người Scotland Adam Smith đã nói đã viết vào năm 1776, Trung Quốc giàu hơn toàn bộ châu Âu cộng lại. Hoặc, như nhà sử học kinh tế người Đức Andre Gunder Frank đã nói đặt nóTrung Quốc là trung tâm của nền kinh tế thế giới cho đến năm 1800.
Vì vậy, cả hai tuyên bố liên quan đến thời gian nắm quyền của phương Tây đều có giá trị. Tuy nhiên, thực tế là Trung Quốc vẫn là nền kinh tế lớn nhất thế giới trong khoảng 200 năm có sức nặng đáng kể. Quả thực, trong hoàn cảnh như vậy, không quốc gia nào có thể bị coi là bị bỏ lại phía sau, như Ferguson lập luận. Về vấn đề này, lập trường của Mahbubani đáng tin cậy hơn.
Tuy nhiên, điều vẫn còn rõ ràng là cuộc suy thoái kinh tế mà Trung Quốc đã trải qua trong thế kỷ 19. Mặc dù nhiều nơi ở châu Âu đón nhận cuộc cách mạng công nghiệp, đất nước này vẫn gắn liền với các cấu trúc kinh tế truyền thống. Quá trình hiện đại hóa kinh tế và quân sự của châu Âu đã vượt xa Trung Quốc, gây ra cái được gọi là “thế kỷ tủi nhục”. Trên thực tế, vào năm 1900, Trung Quốc và Ấn Độ cùng nhau chỉ đại diện cho 7% của sản xuất thế giới.
Khi Trung Quốc phục hồi, điều quan trọng là phải xác định xem phương Tây vẫn thống trị trong bao lâu và ở mức độ nào. Đó có phải chỉ là một cái gật đầu trong bối cảnh vai trò nguyên thủy hàng thiên niên kỷ của Trung Quốc trong lịch sử nhân loại, hay một điều gì đó lâu dài hơn, với những hậu quả rộng hơn và sâu sắc hơn nhiều? Như chúng ta đã thấy, câu trả lời nằm đâu đó ở giữa.
(Kaitlyn Diana Tôi đã chỉnh sửa phần này.)
Các quan điểm trình bày trong bài viết này là của tác giả và không nhất thiết phản ánh chính sách biên tập của Fair Observer.

















