Một ngày sau khi Bộ Ngoại giao (MEA) cho biết hộ chiếu Ấn Độ là giấy thông hành chứ không phải bằng chứng về quyền công dân, bộ phận đăng ký của chính phủ UP cho biết Thẻ Aadhaar chỉ đơn giản là bằng chứng về danh tính, không phải bằng chứng về mối quan hệ.
Sử dụng các tài liệu khác để xác minh mối quan hệ gia đình
Thông báo chính thức nêu rõ rằng Aadhaar hoàn toàn là bằng chứng về danh tính và địa chỉ chứ không phải bằng chứng về mối quan hệ gia đình. Ông cũng khuyên cơ quan chức năng sử dụng các giấy tờ khác như giấy khai sinh hoặc hồ sơ gia đình để xác minh mối quan hệ.
Đặc biệt, thông báo cho biết rằng các chi tiết như ‘C/o’ hoặc ‘W/o’ trên thẻ Aadhaar không được coi là bằng chứng pháp lý về mối quan hệ.
Câu trả lời nhanh cho các câu hỏi chính
•5 CÂU HỎI
Cục Đăng ký UP tuyên bố rằng Aadhaar phục vụ nghiêm ngặt như một bằng chứng về danh tính và địa chỉ, không phải là bằng chứng về mối quan hệ gia đình.
Aadhaar không được coi là bằng chứng về quyền công dân vì nó không trao bất kỳ quyền công dân hoặc nơi cư trú nào; nó chỉ đơn giản là một tài liệu nhận dạng.
Mối quan hệ gia đình phải được xác minh bằng các tài liệu khác như giấy khai sinh hoặc hồ sơ gia đình, vì Aadhaar không phải là bằng chứng pháp lý về mối quan hệ.
Bộ Ngoại giao đã làm rõ rằng hộ chiếu là một giấy thông hành chứ không phải bằng chứng về quyền công dân, nhấn mạnh vai trò của nó trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại hơn là thiết lập quyền công dân.
Không, công dân không nên dựa vào Aadhaar để khẳng định quyền công dân của mình; thay vào đó, các tài liệu chính thức như giấy chứng nhận nhập tịch hoặc đăng ký được yêu cầu để chứng minh quyền công dân.
Thông tư do Tổng Thanh tra Đăng ký Uttar Pradesh ban hành vào ngày 19 tháng 6 tới tất cả các Phó Tổng Thanh tra Đăng ký đã yêu cầu các quan chức không chỉ dựa vào Aadhaar trong khi xác minh mối quan hệ gia đình trong đơn đăng ký, công việc đăng ký hoặc các vấn đề hành chính khác.
Aadhaar là bằng chứng nhận dạng, không phải quyền công dân
Cần lưu ý rằng UIDAI làm rõ rằng mặc dù số Aadhaar cấu thành bằng chứng nhận dạng nhưng nó không trao bất kỳ quyền công dân hoặc nơi cư trú nào đối với người giữ số Aadhaar. Trong nhiều trường hợp, Tòa án Tối cao cũng đã làm rõ rằng thẻ Aadhaar chỉ có giá trị làm bằng chứng nhận dạng chứ không phải là bằng chứng về quyền công dân hoặc nơi cư trú.
Chính phủ làm rõ vấn đề hộ chiếu
Hơn nữa, sau cuộc tranh cãi gây ra bởi những bình luận của quan chức MEA, các nguồn tin chính phủ cho biết hôm thứ Năm rằng họ đã làm rõ rằng một hộ chiếu chưa bao giờ cấu thành bằng chứng về quyền công dân và không có quyết định mới nào được đưa ra về tài liệu này bởi chính phủ Modi trong 12 năm qua.
Theo Đạo luật Hộ chiếu năm 1967, hộ chiếu cũng có thể được cấp cho người không phải công dân, nguồn tin nói với PTI.
Một nguồn tin cho biết: “Ngày hôm qua người ta vẫn chưa quyết định rằng hộ chiếu không phải là bằng chứng về quyền công dân. Nó thậm chí còn chưa được quyết định trong 12 năm qua. Hộ chiếu chưa bao giờ là bằng chứng về quyền công dân”.
Các nguồn tin chính thức cho rằng phán quyết của Tòa án Tối cao Bombay năm 2013 đã nói rõ rằng hộ chiếu không phải là bằng chứng về quyền công dân.
Trong khi điều trần việc Ủy ban bầu cử sửa đổi chuyên sâu đặc biệt danh sách bầu cử, Tòa án tối cao đã nhận thấy rằng Aadhaar không phải là bằng chứng thuyết phục về quyền công dân mà chỉ đơn thuần là một tài liệu nhận dạng.
Vào ngày 20 tháng 12 năm 2019, Cục Thông tin Báo chí (PIB) của Chính phủ Ấn Độ đã đưa ra lời giải thích toàn diện thông qua một loạt câu hỏi thường gặp (FAQ) liên quan đến Sổ đăng ký công dân quốc gia (NRC) và Đạo luật sửa đổi quyền công dân (CAA).
“Quyền công dân có thể được chứng minh bằng cách nộp bất kỳ tài liệu nào liên quan đến ngày và nơi sinh. Tuy nhiên, vẫn chưa có quyết định về những tài liệu nào được chấp nhận.”
PIB cũng tuyên bố trong Câu hỏi thường gặp rằng quyền công dân của bất kỳ người nào được quyết định dựa trên Quy tắc Công dân năm 2009. Các quy tắc này dựa trên Đạo luật Công dân năm 1955.
Nó nêu rõ rằng năm cách để bất kỳ người nào trở thành công dân Ấn Độ là quốc tịch theo nơi sinh, quốc tịch theo dòng dõi, quốc tịch theo đăng ký, quốc tịch theo nhập tịch và quốc tịch theo thành lập công ty.

















