Tác động của cuộc khủng hoảng Iran tới chiến lược năng lượng của Nhật Bản

    2
    0



    Chương trình năng lượng toàn cầu

    Ngày 19 tháng 5 năm 2026 • 2 giờ chiều. ET


    Qua
    Tatsuya Terazawa

    Tatsuya Terazawa là Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành của Viện Kinh tế Năng lượng Nhật Bản. Tiểu luận này là một phần của Chương trình nghị sự năng lượng toàn cầu 2026.

    Cuộc khủng hoảng do cuộc tấn công của Mỹ-Israel vào Iran ngày 28/2 đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng trên thế giới. Nhật Bản chắc chắn không tránh khỏi cuộc khủng hoảng, đặc biệt là liên quan đến chi phí năng lượng ngày càng tăng. Nhưng bất chấp sự phụ thuộc nặng nề vào nhập khẩu năng lượng, Nhật Bản đã xử lý cuộc khủng hoảng tương đối tốt so với hầu hết các nước láng giềng châu Á.

    Cho đến nay, có 5 yếu tố đã giúp Nhật Bản giải quyết khủng hoảng. Đầu tiên là mức dự trữ dầu thô cao. Nhật Bản đã có 254 ngày dự trữ vào thời điểm bị tấn công. Mức này cao hơn nhiều so với các nước châu Á khác, có thể ngoại trừ Trung Quốc.

    Yếu tố thứ hai là sự đa dạng hóa nguồn khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) và tỷ lệ hợp đồng LNG dài hạn ở mức cao. Sự phụ thuộc của Nhật Bản vào LNG đi qua eo biển Hormuz vào thời điểm xảy ra cuộc tấn công chỉ đơn giản là 6 phần trăm. Nhật Bản cung cấp 80% lượng LNG theo hợp đồng dài hạn, đảm bảo nguồn cung ổn định và tránh tăng giá trên thị trường LNG giao ngay.

    Yếu tố thứ ba là đa dạng hóa nguồn khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG). Sự phụ thuộc của Nhật Bản vào LPG từ Trung Đông chỉ là 3%. Ngoài ra, Nhật Bản còn có 90 ngày dự trữ LPG.

    Yếu tố thứ tư là duy trì năng lực lọc dầu trong nước. Nhật Bản vẫn duy trì đủ công suất lọc dầu để đáp ứng nhu cầu trong nước về xăng, nhiên liệu diesel, nhiên liệu máy bay phản lực và hầu hết các sản phẩm dầu mỏ khác.

    Yếu tố thứ năm là sự đa dạng hóa nguồn năng lượng của Nhật Bản. Ngoài việc thúc đẩy năng lượng tái tạo, bao gồm cả quang điện mặt trời (PV), Nhật Bản đã duy trì các nhà máy điện đốt than và đội ngũ nhà máy điện hạt nhân hiệu quả hơn bất chấp những cơn gió ngược mạnh sau vụ tai nạn hạt nhân Fukushima năm 2011. Nhật Bản có đủ phương tiện để đối phó với sự sụt giảm khiêm tốn về nguồn cung cấp LNG bằng cách sử dụng các nguồn năng lượng khác.

    Các chính sách an ninh năng lượng của Nhật Bản xứng đáng được ghi nhận vì thành công tương đối của nước này trong việc quản lý khủng hoảng. Họ cũng có thể đóng vai trò là hình mẫu cho các nước châu Á khác quyết tâm cải thiện an ninh năng lượng của mình.

    Nhưng chính sách năng lượng của Nhật Bản vẫn chưa hoàn hảo. Cuộc khủng hoảng đã bộc lộ một số điểm yếu và Nhật Bản phải khắc phục chúng. Sự phụ thuộc của Nhật Bản vào Trung Đông 94% lượng dầu thô chắc chắn là quá cao và Nhật Bản phải đa dạng hóa nguồn cung. Mặc dù việc pha trộn dầu thô từ các nguồn bên ngoài Trung Đông có thể thực hiện được ở một mức độ nào đó, việc tiếp tục sử dụng loại dầu thô này đòi hỏi phải sửa đổi các cơ sở lọc dầu ở Nhật Bản. Cần xem xét hỗ trợ chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư và giúp năng lực lọc dầu của Nhật Bản trở nên linh hoạt hơn.

    Mức dự trữ LNG vừa phải ba tuần. Dù khó có thể lưu trữ LNG trong thời gian dài nhưng lượng dự trữ ba tuần là quá ít. Các chính sách nhằm tăng mức dự trữ LNG cần được xem xét. Trong thời kỳ khủng hoảng, việc thiếu bảo hiểm cũng có thể cản trở việc vận chuyển. Ngày nay, phạm vi bảo hiểm cuối cùng được xác định bởi các công ty tái bảo hiểm ở London. Nhật Bản nên xem xét việc có cơ sở tái bảo hiểm riêng nếu điều này không có sẵn ở London.

    Mặc dù Nhật Bản có đủ công suất lọc dầu cho hầu hết các sản phẩm dầu mỏ nhưng nước này vẫn phụ thuộc vào Trung Đông về các sản phẩm dầu mỏ. 40 phần trăm naphtha của nó. Với việc naphtha là nguyên liệu thô thiết yếu cho các ngành công nghiệp hóa chất khác nhau, mối lo ngại đang gia tăng về khả năng thiếu hụt nhiều loại hóa chất thiết yếu. Nhật Bản phải tích hợp naphtha như một phần không thể thiếu trong chiến lược an ninh năng lượng của mình và nên xem xét việc thiết lập hệ thống dự trữ naphtha cũng như đa dạng hóa các nguồn cung cấp.

    Những hành động này có thể giúp tăng cường an ninh nguồn cung cấp nhiên liệu hóa thạch. Mặc dù đây là những biện pháp cần thiết nhưng Nhật Bản cũng nên phát triển năng lượng phi hóa thạch và giải quyết nhu cầu năng lượng.

    Nhật Bản cũng phải tiếp tục thúc đẩy năng lượng tái tạo. Do sự cạnh tranh với các mục đích sử dụng đất khác và sự phản đối của cộng đồng địa phương cản trở việc tăng tốc các dự án năng lượng mặt trời lớn, Nhật Bản sẽ cần tăng cường các chính sách để thúc đẩy quang điện mặt trời trên mái nhà. Năng lượng gió ngoài khơi cũng là một lựa chọn quan trọng. Để phát triển năng lượng gió ngoài khơi, Nhật Bản sẽ cần xây dựng các chính sách toàn diện để giảm chi phí, chi phí này ở Nhật Bản cao hơn đáng kể so với thị trường toàn cầu.

    Việc khởi động lại các nhà máy điện hạt nhân đã đóng cửa phải được đẩy mạnh hơn nữa. Trong khi mười lăm đơn vị đã trực tuyến trở lại, mười tám đơn vị vẫn ngoại tuyến. Nhật Bản cũng phải xem xét việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân mới.

    Hiệu quả năng lượng cần phải được cải thiện hơn nữa. Do nhu cầu năng lượng ngày càng tăng từ trí tuệ nhân tạo (AI), hiệu quả sử dụng năng lượng của AI cần được thúc đẩy đồng thời bản thân công nghệ này cũng nên được sử dụng để cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng của các hoạt động khác nhau.

    Những chiến lược này rất phù hợp với Kế hoạch năng lượng chiến lược lần thứ bảy được chính phủ Nhật Bản hoàn thiện vào tháng 2 năm 2025. Nhật Bản phải thực hiện đầy đủ kế hoạch năng lượng chiến lược của mình đồng thời tăng cường an ninh nguồn cung cấp nhiên liệu hóa thạch.

    tất cả các bài kiểm tra

    khám phá chương trình

    THE Trung tâm Năng lượng Thế giới phát triển và thúc đẩy các giải pháp chính sách thực tế, phi đảng phái được thiết kế để thúc đẩy an ninh năng lượng toàn cầu, cải thiện cơ hội kinh tế và đẩy nhanh con đường đạt tới mức phát thải ròng bằng không.

    Hình ảnh: Nhà máy điện mặt trời Oguni của Aizu Electric Power được chụp ở Kitakata, tỉnh Fukushima, Nhật Bản, ngày 7 tháng 3 năm 2021. REUTERS/Yuka Obayashi/File Photo