Vào tháng 11 năm 2025, Hoa Kỳ đã công bố Chiến lược an ninh quốc gia dưới thời Tổng thống Donald Trump, đánh dấu sự hồi sinh của Học thuyết Monroe thông qua cái mà chính quyền gọi là “Hệ quả của Trump” hay cái gọi là “Học thuyết Donroe”. Tiếp theo đó là việc áp dụng học thuyết đơn phương này chưa từng có tiền lệ – lần đầu tiên trong Venezuelavà sau đó nhờ sự tham gia của Washington cùng với Israel trong Hoạt động Cơn thịnh nộ sử thi chống lại Iran. Chiến dịch mới nhất này, được phát động với mục tiêu thay đổi chế độ đã nêu, đã gây ra thảm họa cho cả Washington và các nước vùng Vịnh, trong khi nền kinh tế toàn cầu chịu cú sốc nặng nề khi Iran đáp trả bằng cách đóng cửa eo biển Hormuz, cắt đứt gần như 20% nguồn cung năng lượng toàn cầu.
“Học thuyết Donroe” của chính quyền Trump đại diện cho sự hồi sinh hiện đại của một học thuyết hàng thế kỷ. Học thuyết Monroeban đầu được thiết kế để ngăn chặn các thế lực bên ngoài thiết lập ảnh hưởng ở Tây bán cầu. Tuy nhiên, khi hệ thống quốc tế dần dần chuyển từ trật tự đơn cực sang trật tự ngày càng đa cực, việc thực hiện các học thuyết đơn phương như vậy mang lại những rủi ro đáng kể cho chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ.
Từ Monroe đến Donroe: mở rộng giáo lý ra ngoài địa lý
Học thuyết Monroe, ở dạng ban đầu, được giới hạn ở Tây bán cầu – một hạn chế mà, theo logic về an ninh quốc gia, có thể được biện minh ở một mức độ nào đó. Tuy nhiên, dưới hình thức “Học thuyết Donroe” được đổi tên, nó đã trở thành một công cụ quản trị mang tính cưỡng chế mà ứng dụng của nó vượt xa giới hạn địa lý.
Việc Washington theo đuổi việc thay đổi chế độ ở Venezuela và những mối đe dọa chống lại Greenland và khởi động chiến dịch quân sự lớn nhất ở Vịnh Ba Tư kể từ năm 2003. chiến tranh Iraq – mà không tham khảo ý kiến trước với các đồng minh Ả Rập và châu Âu – đã gây thiệt hại đáng kể cho uy tín của Mỹ ở Tây Á. Những hành động này cũng gây thiệt hại đáng kể cho các cơ sở quân sự của Mỹ và làm gián đoạn một trong những huyết mạch quan trọng nhất của trật tự kinh tế toàn cầu.
Ảnh hưởng chiến lược của Iran và yếu tố Hormuz
Sau khi chịu tổn thất đáng kể về mặt hậu cần và chứng kiến sự sụp đổ của hệ thống an ninh ở vùng Vịnh, Washington nhận thấy chế độ Iran không chỉ sống sót mà còn nổi lên với lợi thế chiến lược mang tính quyết định: giờ đây họ có thể kiểm soát đất nước. eo biển Hormuz vô thời hạn, có thể thông qua một hệ thống thanh toán phí cầu đường.
Đối với Israel, mục tiêu rất rõ ràng: làm suy yếu Iran một cách dứt khoát, cả về quân sự và chính trị. Kết quả này đã không thành hiện thực. Thay vào đó, Iran đã củng cố vị thế của mình như một cường quốc quân sự trong khu vực, đặc biệt là về khả năng tấn công. Báo cáo gợi ý rằng Iran đã bảo toàn kho tên lửa đạn đạo và máy bay không người lái trong khi giành quyền kiểm soát eo biển Hormuz, nơi mà giờ đây họ có thể sử dụng như một con bài mặc cả mạnh mẽ trong các cuộc đàm phán về tranh chấp kéo dài về chương trình hạt nhân với Washington.
Thêm vào thực tế chiến lược mới này là vai trò ngày càng tăng của Pakistan trong an ninh vùng Vịnh. Dưới chế độ Saudi-Pakistan hiệp ước quốc phòngNhân viên quân sự Pakistan, cũng như máy bay chiến đấu, hệ thống cảnh báo và kiểm soát trên không (AWACS) và tàu chở dầu, đã bị tấn công. đậu tại căn cứ không quân King Abdulaziz ở Ả Rập Saudi. Sự phát triển này có khả năng mang lại một chiếc ô hạt nhân cho vùng Vịnh, tạo ra một động lực an ninh mới và phức tạp với những tác động tiềm tàng đáng kể đối với Israel nói riêng.
Quyền tự chủ vùng Vịnh và trật tự an ninh mới
Một trong những hậu quả nổi bật nhất của cuộc chiến ở Iran là sự thay đổi căn bản trong chính sách đối ngoại của các quốc gia vùng Vịnh, khi các quốc gia như Ả Rập Saudi, Qatar và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất khẳng định quyền tự chủ lớn hơn trong các vấn đề an ninh của họ. Trong cuộc xung đột Iran-Hoa Kỳ, Saudis, Qataris và UAE dấu hiệu các thỏa thuận hợp tác phòng thủ chung với Ukraine mà không có sự tham gia của Washington, báo hiệu không có ý định chống Mỹ. mà là sự xuất hiện của một trật tự an ninh khu vực mới ít phụ thuộc vào sự lãnh đạo của Hoa Kỳ.
Đồng thời, lời lẽ khoa trương của Tổng thống Trump trong cuộc xung đột đã gây ra những căng thẳng đáng chú ý giữa Washington và liên minh quan trọng nhất của nước này, NATO. Vì vậy, quan điểm chiến lược hiện nay của Washington đòi hỏi phải khẩn trương điều chỉnh lại. Cần phải nỗ lực để khôi phục uy tín và giải quyết những điểm yếu bộc lộ trong cuộc xung đột ở Iran bằng cách rút ra bài học từ thất bại chiến lược này. Nếu xu hướng hiện tại tiếp tục, có thể chỉ là vấn đề thời gian trước khi Hoa Kỳ thấy mình ngày càng bị cô lập.
Tính cấp bách này càng được nâng cao bởi môi trường địa chính trị rộng lớn hơn. Trong một thế giới đa cực nơi các đối thủ chính của Mỹ – Trung Quốc và Nga – đang tích cực khẳng định mình, việc Iran kiểm soát eo biển Hormuz có ý nghĩa sâu sắc. Iran có nên bắt đầu áp dụng phí cầu đường – có thể là vào Nhân dân tệ Trung Quốcnhư một số báo cáo cho thấy, điều này có thể đẩy nhanh sự suy yếu hoặc thậm chí suy giảm dần dần sự thống trị của petrodollar. Kết quả là, Washington không thể xa lánh các đồng minh của mình. Thất vọng với sự hỗ trợ hạn chế của họ trong cuộc khủng hoảng Hormuz không nên dẫn đến việc từ bỏ các liên minh, vì Washington sẽ cần những mối quan hệ đối tác này nhất một khi sự thù địch ở Tây Á lắng xuống.
Chiến lược phong tỏa và những tính toán sai lầm chiến lược
Cuộc xung đột quan trọng nhất giữa Mỹ và Iran không còn diễn ra trên chiến trường mà trên bàn đàm phán. Trong các cuộc đàm phán hòa bình ở Islamabad và ký kết bản ghi nhớ sau đó, eo biển Hormuz là trọng tâm của các cuộc đàm phán – điều chưa bao giờ nằm trong kế hoạch của Washington. Tehran có thể sẽ khai thác quyền kiểm soát eo biển này để đạt được lợi ích kinh tế và làm công cụ thương lượng trong các cuộc đàm phán hạt nhân. Những diễn biến gần đây trước cuộc đàm phán hạt nhân kéo dài 60 ngày giữa Iran và Mỹ càng làm nổi bật thêm động lực này.
Trong khi nỗ lực của Hải quân Hoa Kỳ nhằm áp đặt một phong tỏa hải quân ở eo biển Hormuz về mặt lý thuyết nghe có vẻ ghê gớm nhưng trên thực tế, nó có thể dẫn đến một thất bại chiến lược đáng kể cho Washington. Mục đích đã nêu của việc phong tỏa là nhằm hạn chế vận chuyển dầu đến và đi từ các cảng của Iran, nhưng hầu như toàn bộ hoạt động xuất khẩu dầu của Iran, gần 80%gửi đến người mua lớn nhất của nó là Trung Quốc. Việc gián đoạn nguồn cung cấp năng lượng của Trung Quốc sẽ tạo thành một ranh giới đỏ lớn đối với Bắc Kinh, một ranh giới mà Washington khó có thể vượt qua, không phải vì sự thua kém về quân sự mà vì những hạn chế hiện tại của nước này. CHÚNG TÔI kho đạn dược đã cạn kiệt đáng kể và các hệ thống phòng không được cho là đang cạn kiệt tài nguyên. tên lửa đánh chặn.
Ngay cả khi xuất khẩu của Iran bị gián đoạn một phần, Tehran vẫn có các tuyến đường thay thế để vận chuyển dầu qua biên giới đất liền rộng lớn với các nước láng giềng, cho phép nước này giảm thiểu tác động của lệnh phong tỏa có thể xảy ra. Do đó, việc phong tỏa hải quân của Washington có thể gây ra thiệt hại lớn hơn cho nền kinh tế Mỹ và toàn cầu so với Iran.
Washington phải đối mặt với những thất bại chiến lược của cuộc chiến này và rút ra những bài học quý giá từ chúng. “Học thuyết Donroe” của Trump, một chính sách bắt nguồn từ việc đơn phương khẳng định quyền lực, trên thực tế đã bộc lộ những giới hạn của sức mạnh Mỹ. Nếu Washington muốn điều chỉnh lại cách tiếp cận chiến lược của mình, nước này phải từ bỏ các chính sách cưỡng bức và hướng tới can dự ngoại giao toàn diện hơn. Nước này phải áp dụng định hướng chính sách đối ngoại mới tập trung vào việc khôi phục niềm tin và sự tin cậy của các đồng minh và đối mặt với thực tế đang thay đổi của cường quốc toàn cầu bằng sự thận trọng và tài lãnh đạo ngoại giao.
(Omar Abdelrahman Tôi đã chỉnh sửa phần này.)
Các quan điểm trình bày trong bài viết này là của tác giả và không nhất thiết phản ánh chính sách biên tập của Fair Observer.

















